Tôi đã ngập ngừng muốn viết một bài trọn vẹn về tập thơ “in illo tempore” của Nguyễn Thuỵ Đan ngay từ lần đầu tiên đọc nó. Rồi lại thôi. Điều kiện cần khi đọc thơ Đan có lẽ là phải am tường đến đơn vị nhỏ nhất của nó là chữ, lại còn là chữ cổ và chữ có gốc Hán. Tôi biết, để hoàn toàn bước vào và thở cùng vùng khí quyển ấy với người viết, người đọc phải hiểu đủ đến mức việc “nhìn” mặt chữ và việc “thấy” cái đằng sau mặt chữ gần như phải đến cùng một lúc. Chưa kể, còn phải rành rẽ về vần luật, âm vang. Nếu đọc thơ như đến xem một buổi hoà nhạc thì “tấm vé” để bước vào thơ Đan nên là như vậy. Những thứ đó, ôi chao, hiểu biết của tôi hạn hẹp biết mấy.
Dẫu vậy, ngay từ lần đọc đầu tiên, dù chỉ mới hiểu phần nào ngôn ngữ trong đó, theo đúng nghĩa đen của từ này, tôi đã lờ mờ cảm nhận rằng giữa mình và Đan có chung một giềng mối tôi chưa thể gọi tên. Đọc chừng như với tôi luôn là vậy. Trực giác đi trước. Rồi dần dần lý trí làm việc như chơi cùng các mảnh ghép và các chi tiết của bức tranh ngày một hiện rõ hơn.
Một ngày, Đan nhắn với tôi rằng điều tôi nói trong thơ gần như cũng là điều Đan muốn nói, chỉ là chữ tôi dùng gần gũi hơn Đan. Tôi cười phớ lớ. Tôi có giỏi giang gì về chữ mà dám dụng ngôn trưng trổ. Muốn dùng cũng không có mà dùng. Tôi làm thơ theo lối của cha mẹ tôi sinh ra tôi như vậy, những người không có mấy chữ nghĩa. Nhịp mẫu thân run rẩy. Lời phụ thân ngập ngừng.
Vậy thì, rốt cuộc điểm chung đó là gì. Đan đã không nói thêm nhưng tôi biết. Có phải chăng là tâm thức của T.S.Eliot khi viết Hoang Địa vào đầu thế kỷ trước? Chúng ta vừa là chứng nhân lại vừa là phế tích của lịch sử, phải chịu những cơn khủng hoảng không nhỏ trước những mất mát hữu hình lẫn vô hình, và viết như một cuộc trôi nổi trong một vùng khó có thể gọi tên của thời gian: hôm qua chắc chắn đã không còn, và hôm nay thì như dành cho những ai đó khác.
Ít ra, phần lớn những điều tôi mất là những thứ tôi từng có, theo đúng nghĩa vật chất của chúng. Khi tôi mất rồi, chúng mới trở thành thứ tôi đang có bây giờ: những hồn ma. Trong khi điều Đan có từ đầu, tôi biết, chỉ là “những hồi dư-hưởng”, những hồn ma trôi qua nhiều niên kỷ: Đan sống với khí hậu của các vùng thời gian trước đây rất xa trong sách vở, trong “từ-điển”, vào những lúc “tàn khuya tảng sáng”, để rồi dằng dặc một cuộc kiếm tìm bằng những “câu hỏi chẳng cùng nguôi” ở trong lòng đô thị, trớ trêu thay là những đô thị lớn và hiện đại nhất của thời bây giờ.
Vậy thì, cả tập thơ của Đan, với tôi, như thu về một mối trong chính bài thơ được chọn làm tựa đề: “in illo tempore”. Vào thuở ấy. Phải chăng là thuở Đan đã từng có một căn cước đúng nghĩa, để thuở này trở lại và sống nghĩa là sống tiếp phần còn lại trong hình hài của một tiếng vọng?
“in illo tempore
tôi đã độ-nhật. bằng những khoảng vắng
quặn thắt. theo từng câu của swinburne.
vang dội tuyệt-vọng. khắp căn phòng nặng
hơi gió mùa. và grand marnier
còn sót. từ cuộc tự-sát thầm lặng.
để rồi đo. chiều sâu của đêm đông
bằng những hồi dư-hưởng vẳng sau cùng
của tuẫn-tình-khúc. rực lửa. rồi tắt.
thất-tung. vào giữa lòng manhattan
đầu thập-niên bất chợt. và hư-không.
thuở ấy. đời người đã từng đậm nét
hơn ư? khi ngày giờ chưa xám ngắt.
và cơn chán trường-niên. vẫn tìm khuây
nơi wagner. và thịt thà thanh-xuân.
đã bỏ ta. bỏ ta. không dấu vết.
chúng ta không lớn lên. không. chúng ta
chỉ mỏi mòn. những tàn-tích tha ma
của mộng-tưởng cha ông. vọt ra giữa
thác-loạn. rồi quẳng vào thùng rác nhà
nghỉ theo giờ. không một lời lìa xa.
tôi đã thôi tha-thiết. dáng vẻ thời
dĩ-vãng. nhưng câu hỏi chẳng cùng nguôi.
những khuôn mặt. những ánh mắt. túc-trực
tàn khuya tảng sáng. không điếng lòng người
bằng chiều nhục-thể. bằn bặt mù khơi.
chẳng phải ngày xưa mới đẹp khôn mạc.
là viễn-cảnh của cốt truyện. tan tác
buồn vui. hằng gợi ngờ hiện-tại này
không tròn ý-nghĩa. một bầy tù rạc
tư bề huyễn-tượng. những lựa chọn khác.”
Chính Đan cũng không chắc về thuở ấy. Nếu chắc, đã không có câu hỏi “đời người đã từng đậm nét hơn ư?”. Điều chắc chắn: “chúng ta chỉ mỏi mòn”. Chắc hơn nữa: “một bầy tù rạc tư bề huyễn-tượng”. Chỉ là “huyễn-tượng” mà thôi. Một giấc mộng.
Lý do khiến người đang sống thời hôm nay có thể ngần ngại với một bài thơ hoặc một tập thơ dày đặc vết dấu cổ ngữ: hoặc họ ngần ngại với sự không hiểu biết của họ, hoặc họ ngần ngại rằng đó có thể là hàng giả cổ. Đan thì đã sống thật trong chúng từ đầu, từ thời niên thiếu. Chưa kể, Đan còn sống với cả trăm bài tập-làm-thơ theo các thể truyền thống. Nhưng sống trong đó không có nghĩa là không bao giờ tự hỏi rằng rốt cuộc đâu là thực và đâu là mơ. Thơ Đan, vì thế, dù trình hiện qua một lớp vỏ đầy tính kỷ luật và cảnh giác với mọi sự quá đà, cái mà người ta hay gọi là “bản năng thi sĩ”, vẫn là cuộc đi-về không hồi kết giữa cổ và kim, ràng buộc và tự do, hình thức và tân hình thức. Một bài tám chữ nghiêm cẩn vần luật nhưng lắm khi chữ không chịu dừng lại trước một dấu chấm cuối dòng. Nó bất kham thò chân sang ranh giới của dòng khác, cái ranh giới giữa đêm và ngày, trang trọng và bình dân, trí tuệ và thân xác. Chữ cổ buộc phải tập kết giao và sống cùng chữ mới và ngược lại, để “tàn-tích tha ma của mộng-tưởng cha ông” chứng kiến cái “thùng rác nhà nghỉ theo giờ”, và khát vọng cứu rỗi bằng sự tối thượng của Wagner xếp ngang hàng với “thịt-thà thanh xuân”, chỉ là những chốn tìm khuây. Một thứ irony gây đau hơn gây cười. Rốt cuộc, đã chẳng còn một ý nghĩa nào toàn vẹn. Quá khứ không chắc đẹp hơn và hiện tại nghĩa là hiện tại với tan tác buồn vui. “những lựa chọn khác” thừa ra sau dấu chấm như một mảnh vỡ không chủ thể. Không phải là “đúng” hay “sai”, chỉ là “khác”. Chắc gì cái khác ấy không tiếp tục dẫn chúng ta đến một huyễn-tượng, một ngục thất tư bề khác của trống rỗng?
Rốt cuộc, thứ mà tất cả chúng ta đều có là sự sụp đổ của đại tự sự. Bỡn cợt hay xem đó là thảm hoạ tinh thần chỉ là những lối phản ứng khác nhau của một giống loài có chung một nỗi mất mát. “Phá tung”, “phân mảnh”, “giải cấu trúc” hay vô số những thứ mà người ta nhốt chung vào cái nhãn gọi là “hậu hiện đại” rốt cuộc cũng chẳng giúp chúng ta nguôi ngoai phần nào. Có khi còn phải chịu tiếp một trận sụp đổ dưới một mớ gạch vụn hổ lốn ngày một lớn hơn. Thơ Nguyễn Thuỵ Đan nối dài tâm thức của những trí tuệ sống trong đổ nát. Sống để chứng kiến đổ nát và tan rã không chỉ ở ngoại giới mà còn ở trong tâm hồn mình, không chỉ về mặt địa lý mà còn về lịch sử. Nếu chỉ vì Đan mang vào đôi ba chỗ có yếu tố tôn giáo mà gọi đó là “thánh lễ” hay “nghi thức”, những thứ dễ khiến người ta hoặc là ngưỡng vọng hoặc là xa cách, và ngưỡng vọng thì cũng dễ đồng nghĩa với xa cách, tôi cho là đang dừng lại ở phần vỏ, cái dừng lại khi ta đứng trước một ngôi đền u hiển, rõ là đang hiện ra trong một cấu trúc chặt chẽ và tinh xảo, rồi hoặc xuýt xoa hoặc ngần ngại như một thói quen.
Và thói quen ấy chắc gì không làm buồn lòng thánh thần đang ngự ở bên trong, những thánh thần ta cứ ngỡ là khác mà nào có khác chi chúng ta, đã không ít lần chực đổ?
Linh Văn
Leave a comment