Dù AI sẽ đi đến đâu, sẽ hủy diệt loài người hay làm họ thêm phần hãnh tiến, thứ làm con người khác biệt với máy móc chỉ gói gọn trong một từ: sense. Năm (thậm chí sáu) giác quan là cửa ngõ đầu tiên để con người kết nối với thế giới xung quanh. Mắt thấy màu, tai nghe giọng, mũi ngửi hương, miệng nếm vị, và thịt da chạm lấy thịt da. Bạn có bao giờ nghĩ tại sao mắt tai mũi miệng xếp theo một trật tự nhất định như vậy trên khuôn mặt chúng ta không? Từ những cơ quan thiên về cảm giác ấy, tín hiệu thần kinh được truyền đi và đưa chúng ta đến những tầng tiếp theo: tri giác (perception) và nhận thức thiên về lý tính (cognition).
Nhưng đầu tiên và trước hết luôn là sense. Các giác quan tạo ra cảm giác (sensation), khi mà những kích thích từ môi trường bên ngoài lần đầu tiên trở thành một trải nghiệm có thể cảm nhận được bên trong cơ thể của chúng ta. Máy móc có cơ quan tiếp nhận tín hiệu từ môi trường bên ngoài hay không? Chắc chắn là có. Nhưng máy đón lấy một thông tin nào đó và ngay lập tức đi thẳng tới tầng cognition. Máy không ngứa khi bị muỗi đốt hay đau khi bị người yêu nói lời chia tay. Chúng ta thì có.
Khi con người ngày một mất đi thế giới thực xung quanh họ: đất đã lở, rừng đã cháy, cây đã bị đốn trụi, thác lũ cuốn phăng tất cả, có vẻ họ lại càng lao nhanh về phía thế giới ảo để tìm cách lấp đầy khoảng trống đó, bởi bản chất loài người có gì khác hơn là một giống loài e ngại mất mát. Mất thế giới thực thì mất giác quan. Thế giới công nghệ với những bước đi thần tốc của AI và máy móc và dữ liệu tạo ra vô vàn các số má và các khái niệm để bù vào. Khái niệm và thuật toán lại tiếp tục đẻ ra khái niệm và thuật toán.
Tôi có thể là một người đọc bảo thủ nhưng quả thật tôi không thể đọc nổi những thứ gọi là thơ hay văn chương mà ném vào đó một mớ các khái niệm. Không ai xử lý các khái niệm tốt hơn những triết gia. Và gần đây là AI.
Thi ca có triết lý không? Có thể có. Nhưng đó là thứ triết lý được tạo ra bằng ngôn ngữ của thi ca. Thứ triết lý không bắt đầu bằng các khái niệm mà bằng trải nghiệm. William Carlos Williams từng nói: no ideas but in things.
Tomas Tranströmer ngoài chuyện là một nhà thơ còn là một nhà tâm lý học. Có lẽ ông hiểu và tin sức mạnh của các giác quan hơn ai hết. Trong những bài thơ của ông mà tôi từng đọc, những sự vật và phong cảnh hiện ra ở đó, chúng tĩnh tại, chờ chúng ta tiếp nhận, và trong một thoáng khi ta đang đọc, có một chuyển động diễn ra, rất nhẹ, để rồi thế giới mãi mãi không còn là thế giới của trước khi ta đọc bài thơ. Có lẽ khí quyển của vùng đất quê hương ông đã làm nên phong vị ấy: bên dưới những tảng băng ở Bắc Âu, những tảng băng trắng khổng lồ mà ta ngỡ như bất động, có những chuyển động hết mực vi tế. “Từ tháng bảy năm 90” là một bài thơ như thế.
| Từ tháng bảy năm 90 |
Đó là một đám tang
và tôi cảm thấy người đã khuất
đang đọc những suy nghĩ của tôi
rõ hơn chính tôi.
Đàn organ lặng đi, chim hót.
Huyệt phơi dưới mặt trời chói chang.
Giọng nói bạn tôi vương lại
ở phía bên kia của những phút giây.
Tôi lái xe về nhà bị nhìn thấu
bởi vẻ rực rỡ của ngày hè
bởi cơn mưa và sự tĩnh lặng
bị nhìn thấu bởi vầng trăng.
Tomas Tranströmer
Quân Khuê dịch từ bản tiếng Anh của Patty Crane
Tranströmer là một nhà thơ, là một con người thi sĩ. Bởi thế trước mất mát, thứ ông làm đầu tiên, như một bản năng nguyên thủy, là “cảm thấy”: “Tôi cảm thấy người đã khuất/ đang đọc những suy nghĩ của tôi/ rõ hơn chính tôi.” Hãy nhớ lại rằng chúng ta là con người, một giống loài có suy nghĩ, có nhận thức, nhưng sensation luôn ập đến trước, và trước một biến cố như thế, suy nghĩ là một vùng mờ. Trong thời khắc của mất mát, âm thanh nhân tạo tắt đi, trả lại cho tai nghe những âm thanh tự nhiên: “Đàn organ lặng đi, chim hót.”
“Huyệt phơi dưới mặt trời chói chang”.
Chỉ vậy.
Không có động năng ở đây. Thế giới ngưng lại trong thoáng chốc. Vạn vật như thể vừa phơi bày vừa giấu kín trong lòng huyệt mộ. “Huyệt” và “mặt trời”, “tối” và “sáng”. Rồi mặt đất bỗng mở một lối rất sâu xuống bên dưới nếu bạn dừng đủ vài giây, và sẵn lòng để các giác quan của mình lên tiếng, sau khi đọc câu này:
“Tôi lái xe về nhà bị nhìn thấu
bởi vẻ rực rỡ của ngày hè”
Trước mất mát, nếu một ai đó viết: “tôi lái xe về nhà và nhìn thấu/ vẻ rực rỡ của ngày hè” thì người ấy vẫn là nhà thơ nhưng là một dạng nhà thơ sắp thành triết gia hoặc thiền sư. Chỉ có triết gia hoặc thiền sư mới thấu suốt hoặc có tham vọng thấu suốt mọi sự trên đời. Tranströmer viết ở tư thế ngược lại: ông không “nhìn thấu” mà “bị nhìn thấu”. Trong thứ ánh sáng rực rỡ kia, nhà thơ sống bằng nỗi vô minh và cảm giác bất an của người phàm. Ở ngoài cửa kính xe, xa và xa hơn nữa, vũ trụ chừng như quá rộng lớn để ta có thể hiểu thấu rồi quẳng một mớ khái niệm và nhận thức vào đó.
Chúng ta là nhà thơ bởi trước hết chúng ta là con người. Là con người, khi chưa đến trường một ngày nào, thậm chí khi chưa nói được từ nào, thì đã có giác quan.
Giác quan, cái ranh giới cuối cùng, cái ranh giới phân chia giữa con người với máy móc. Nó mong manh nhưng có thực.
Linh Văn
